Tình hình nuôi và hiện tượng chết hàng loạt trên cua biển nuôi thương phẩm tại các tỉnh ven biển ĐBSCL

Vũ Văn Dũng

Cập nhật: 18:24, 20/10/2025

Cua biển (Scylla paramamosain) là loài có giá trị quan trọng chỉ sau tôm sú trong ngành nuôi trồng thủy sản. Các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bao gồm Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, …, đều có diện tích nuôi cua biển lớn. Diện tích nuôi cua biển trong những năm gần đây đang có xu hướng tăng lên và biến động giữa các địa phương, dao động từ 0,8% đến hơn 50% tổng diện tích nuôi thủy sản của từng tỉnh. Ở Việt Nam, mô hình nuôi cua biển phổ biến là nuôi quảng canh, thường được nuôi ghép với tôm. Những nghiên cứu từ trước đến nay chủ yếu tập trung vào sản xuất giống và quy trình nuôi cua thương phẩm, các nghiên cứu về phòng trị bệnh trên cua biển còn hạn chế.

Từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2026, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao thực hiện đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu nguyên nhân gây chết hàng loạt trên cua biển (Scylla paramamosain) và giải pháp hạn chế thiệt hại” với mục tiêu là xác định được nguyên nhân, tác nhân chính gây chết hàng loạt và đề xuất được giải pháp kỹ thuật, quản lý nhằm kiểm soát hạn chế thiệt hại trên cua nuôi thương phẩm tại ĐBSCL. Bước đầu đề tài đã thực hiện điều tra tình hình nuôi và hiện tượng chết hàng loạt của cua biển nuôi thương phẩm tại các tỉnh ven biển ĐBSCL. Kết quả khảo sát thu được các thông tin sau:

– Diện tích và độ sâu ao nuôi: Ao nuôi có diện tích trung bình khoảng 1,83 ha, với độ sâu phổ biến là 1,0 m, phù hợp cho mô hình quảng canh cải tiến.

– Tần suất kiểm tra và sử dụng vi sinh: Tỷ lệ kiểm tra chất lượng nước (45,5%) và sử dụng vi sinh (43,3%) còn tương đối thấp, cho thấy việc quản lý môi trường nuôi vẫn còn hạn chế.

– Mật độ và số lần thả cua: Mật độ thả trung bình khá thấp (0,9 con/m²), với số lần thả trung bình chỉ khoảng 1,2 lần/năm, phù hợp với hình thức nuôi quảng canh ít thâm canh.

– Giá bán và thời gian nuôi: Thời gian nuôi kéo dài trung bình 6,6 tháng với giá bán dao động từ 178,9 – 210,6 nghìn đồng/kg, cho thấy tiềm năng kinh tế nhưng cần tối ưu quản lý để tăng hiệu quả.

– Tỷ lệ hộ nuôi xuất hiện hiện tượng cua chết cao ở Cà Mau: Có đến 75% hộ nuôi tại Cà Mau ghi nhận cua chết hàng loạt, cao hơn nhiều so với Bạc Liêu (16,6%) và Sóc Trăng (10%), cho thấy vấn đề bệnh nghiêm trọng hơn tại khu vực này. Sự khác biệt vùng miền trong rủi ro nuôi cua: Sự chênh lệch lớn về tỷ lệ cua chết giữa các tỉnh cho thấy yếu tố môi trường, quản lý ao nuôi hoặc dịch bệnh có thể khác nhau đáng kể giữa các vùng nuôi cua ở ĐBSCL.

Kết quả khảo sát ban đầu có thể nhận định hiện tượng cua chết hàng loạt tại ĐBSCL là kết quả của nhiều yếu tố tương tác phức tạp, bao gồm biến động môi trường, tác nhân gây bệnh, chất lượng con giống và ô nhiễm nguồn nước. Biến đổi khí hậu và hoạt động sản xuất của con người có thể góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng này. Do đó, việc áp dụng đồng bộ các biện pháp sinh học và cải thiện quản lý ao sẽ giúp giảm thiểu rủi ro và nâng cao năng suất bền vững; xây dựng mô hình nuôi bền vững và triển khai các chính sách hỗ trợ dài hạn là cần thiết để bảo vệ hệ sinh thái và đảm bảo sự phát triển ổn định của nghề nuôi cua tại khu vực này.

Hình 1: Ths. Võ Bích Xoàn – chủ nhiệm nhiệm vụ đang kiểm tra cua biển nuôi tại tỉnh Sóc Trăng.
Hình 2: Mô hình nuôi cua kết hợp tại Cà Mau.

Bài và ảnh: Ths. Võ Bích Xoàn, Phân viện Nghiên cứu thủy sản Nam sông Hậu.

Bài viết liên quan