Kết quả bước đầu nghiên cứu ương tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực giống lớn

Vũ Văn Dũng

Cập nhật: 18:25, 20/10/2025

Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879) là loài có kích thước lớn nhất trong giống Macrobrachium, thích nghi và phát triển tốt cả trong nước ngọt và nước lợ, có thể nuôi được ở nhiều mô hình khác nhau như: mương vườn, bán thâm canh, thâm canh trong ao hoặc ruộng lúa, có thể nuôi chung với tôm sú và tôm thẻ chân trắng nên chúng được xác định là đối tượng nuôi rất thích hợp cho vùng tôm lúa ở duyên hải, đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Mô hình nuôi tôm – lúa hiện nay được xem là mô hình thích ứng biến đổi khí hậu: khi độ mặn cao tôm sú được thả nuôi cùng với cua hoặc tôm thẻ chân trắng; Lúa được trồng vào mùa mưa khi độ mặn thấp, đây cũng là điều kiện thích hợp cho nuôi tôm càng xanh và đây là đối tượng nuôi chính xen canh với trồng lúa mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trước đây, nông dân thả nuôi tôm càng xanh giống PL10-PL12 sau 5-6 tháng nuôi, tôm thu hoạch cỡ 20-25 con/kg, nhưng do giá tôm thương phẩm thấp, hiệu quả kinh tế không cao nên nông dân ở nhiều vùng chuyển sang nuôi tôm càng xanh toàn đực để thu tôm lớn hơn (10-15 con/kg) có giá bán cao hơn.

Hiện nay, quy trình kỹ thuật nuôi tôm càng xanh – lúa, có thêm khâu ương tôm giống trước khi tôm được thả ra ao nuôi. Giai đoạn ương tôm giống thực hiện với mục đích giúp nâng cao tỉ lệ sống tôm giống trong giai đoạn ương, quản lý, kiểm soát được số lượng và chất lượng tôm thả nuôi và rút ngắn thời gian nuôi thương phẩm. Tuy nhiên, công nghệ ương hiện nay chỉ có khả năng sản xuất một sản lượng giống lớn hạn chế nên nguồn cung giống cỡ lớn trên thị trường chưa nhiều dẫn đến không đáp ứng đủ nhu cầu của người nuôi tôm càng xanh thương phẩm. Trong khi đó, các cơ sở sản xuất giống tôm càng xanh của Việt Nam tập trung sản xuất giống đến PL11, chưa chú trọng vào sản xuất giống lớn. Đó cũng là lý do thúc đẩy việc nghiên cứu ương giống lớn quy mô hàng hoá, nhằm phục vụ nuôi thương phẩm tôm càng xanh toàn đực.

Năm 2024, Phân Viện Nghiên cứu Thuỷ sản Nam Sông Hậu – đơn vị trực thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản II đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao thực hiện đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ ương tôm càng xanh (Marcrobrachium rosenbergii) toàn đực giống lớn quy mô hàng hóa” với mục tiêu là xây dựng được quy trình ương tôm càng xanh toàn đực giống lớn phục vụ cho nuôi thương phẩm và nghiên cứu sâu trên đối tượng này. Kết quả bước đầu thử nghiệm ương tôm càng xanh giống, sau 45 ngày kết quả như sau:

Độ mặn ương tôm càng xanh giống: 03 nghiệm thức độ mặn: 05, 10 và 15‰ đã được thử nghiệm, mỗi nghiệm thức lặp lại 03 lần. Kết quả cho thấy ở độ mặn 5‰ đạt kết quả tốt nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với các nghiệm thức khác, chiều dài: 4,11 ± 0,26 cm và khối lượng: 1,09 ± 0,07 g, tỷ lệ sống: 71,74 ± 0,95%.

Thức ăn ương tôm càng xanh giống: 03 nghiệm thức thức ăn đã được thử nghiệm với hàm lượng đạm: < 38 (NT5); từ 40-39 (NT6); > 43% (NT7), mỗi nghiệm thức lặp lại 03 lần. Kết quả cho thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm 39-40% đạt kết quả tốt nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với các nghiệm thức khác.

+ Về chiều dài, tôm ương ở NT5 và NT6 đạt 4,02 ± 0,25 và 4,03 ± 0,26 cao hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với NT7 là 2,99 ± 0,36 (p<0,05).

+ Về trọng lượng, tôm ương ở NT5 và NT6 đạt 1,06 ± 0,06 và 1,07 ± 0,06, khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) nhưng cao hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với NT7 là 0,78 ± 0,18 (bảng 8). Kết hợp xem xét với tỷ lệ sống của NT6 là 72,12 ± 0,58% cao nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với các nghiệm thức khác.

Với kết quả này, việc ương tôm càng xanh toàn đực giống lớn quy mô hàng hóa thành công mở ra cơ hội/tiềm năng cho nghề nuôi tôm càng xanh toàn đực thích ứng với biến đổi khí hậu do rút ngắn thời gian nuôi thương phẩm, góp phần hạn chế rủi ro cho người nuôi.

Hình 1: Đo chiều dài tôm. Hình 2: Cân trọng lượng tôm.
Hình 3: Kiểm tra tôm. Hình 4: Hệ thống bể ương.

Bài và ảnh: ThS. Ngô Minh Lý (Chủ nhiệm đề tài). Phân Viện Nghiên cứu Thuỷ sản Nam Sông Hậu – Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thuỷ sản II.

Email: nmlypvcm@gmail.com

Điện thoại: 0947775686

Bài viết liên quan