18:45 ICT Thứ bảy, 22/01/2022

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 12

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 11


Hôm nayHôm nay : 1942

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 86496

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6133449

Thành viên

Trang nhất » Tin Tức » Tin hoạt động » Bản tin quan trắc

Thông báo tóm tắt báo cáo kết quả quan trắc môi trường nuôi trồng thủy sản ĐBSCL -tháng 05/2021

Thứ sáu - 04/06/2021 17:08

1. Đặc điểm thời tiết trong tháng tại điểm quan trắc
Khu vực Nam Bộ giai đoạn tháng 5/2021 mưa có xu hướng gia tăng. Tổng lượng mưa tại khu vực Nam Bộ có tổng lượng mưa ở mức xấp xỉ TBNN. Nhiệt độ trung bình Nam Bộ phổ biến xấp xỉ so với TBNN cùng thời kỳ. Tiếp tục đề phòng các hiện tượng thời tiết cực đoan như lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh.
 

2. Nhận xét về môi trường nước tại các điểm quan trắc
  • Quan trắc vùng nuôi cá tra thâm canh
- Các thủy vực được quan trắc có nhiệt độ, pH, DO hầu hết nằm trong khoảng giá trị cho phép theo QCVN 02-20:2014/BNNPTNT. Ngoại trừ cầu kênh ông Cò, sông Tiền – Tân Khánh Đông, Vàm Cái Sơn có hàm lượng DO thấp hơn 3,5mg/L. Nhìn chung hầu hết nhiệt độ, DO, pH trong các kênh cấp tương đương so với cùng kỳ năm trước và trung bình nhiều năm. Độ dẫn điện trong các thuỷ vực ít biến động so với cùng kỳ năm 2021, lưu vực Phú Túc, Thạnh Phú Đông, Tiên Long có độ dẫn điện đã giảm so với các lượt quan trắc của tháng 04/2021.
- Thông số chỉ thị ô nhiễm như ammonia, nitrite, phosphate, COD đều cao hơn trung bình cùng kỳ năm 2020 và cao hơn TBNN. Hầu hết các giá trị này đều cao hơn QCVN 08-MT:2015/BTNM. Cần lưu ý thuỷ vực cầu kênh ông Cò, Vịnh Tre, cầu chữ S, Vĩnh Xương, kênh Cái Sao, kênh Tây An, bến đò Thuận Hưng có thông số chỉ thị ô nhiễm cao hơn các điểm còn lại.
- Mật độ vi khuẩn Aeromonas tổng số ghi nhận được hầu hết đều cao hơn hoặc tương đương trung bình cùng kỳ năm 2020 tuy nhiên thấp hơn TBNN. Ngoài ra ghi nhận sự hiện diện của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri với tần suất là 3,2% và Aeromonas hydrophilla là 39,1%.
- Bảng chỉ số chất lượng nước cho thấy chất lượng nước hầu hết trong các thủy vực đều ở mức tốt (chiếm 58%) và rất tốt (chiếm 42% lượt quan trắc). Nhìn chung, chỉ số chất lượng nước T5/2021 tương đương cùng kỳ năm 2020 và TBNN. Trong lượt quan trắc ngày 10-11/05/2021, chất lượng nước trong hầu hết các thủy vực có xu hướng giảm.
  • Quan trắc vùng nuôi cá tra phục vụ xuất khẩu
- Các thủy vực được quan trắc có nhiệt độ, pH, DO đều nằm trong khoảng giá trị cho phép theo QCVN 02-20:2014/BNNPTNT. Ghi nhận giá trị pH <7,0 trong các kênh cấp TT Tràm Chim, Tân An-An Nhơn, Bến đò Bò Ót, Thạnh Mỹ tuy nhiên giá trị này chưa gây ảnh hưởng đến vật nuôi thủy sản. Giá trị nhiệt độ, pH, độ dẫn điện và DO bình quân hầu hết tương đương so với cùng kỳ năm 2020.
- Thông số chỉ thị ô nhiễm N-NH4+, N-NO2-, P-PO43-, COD cho thấy thủy vực TT Tràm Chim và Tây An-An Nhơn ô nhiễm hữu cơ, đặc biệt thủy vực TT Tràm Chim các thông số này rất cao (N-NH4+ cao hơn GHCP từ 18-22 lần)
- Mật độ vi khuẩn Aeromonas tổng số ghi nhận cao ở khu vực Tây An-Mỹ Thới. Ngoài ra ghi nhận sự hiện diện của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri 5% và ghi nhận 64% lượt quan trắc dương tính với Aeromonas hydrophilla.
- Bảng chỉ số chất lượng nước cho thấy chất lượng nước hầu hết trong các thủy vực đều ở mức tốt và rất tốt (chiếm 95% lượt quan trắc). Tuy nhiên ghi nhận kênh TT Tràm Chim và Tây An- An Nhơn có các thông số chỉ thị ô nhiễm cao nên chỉ đạt ở mức trung bình. Nhìn chung, chỉ số chất lượng nước T5/2021 tương đương cùng kỳ năm 2020 và TBNN.
  • Quan trắc vùng nuôi tôm nước lợ trọng điểm
- Các thủy vực được quan trắc đều có giá trị nhiệt độ, pH nằm trong khoảng giá trị cho phép theo QCVN 02-19:2014/BNNPTNT. Lưu vực kênh 9000 và cửa Vinh Kim có độ mặn thấp hơn 5‰. Tương tự cùng kỳ năm trước và TBNN, giá trị DO trong các thuỷ vực thuộc Bạc Liêu hầu hết đều thấp hơn 3mg/l.
- Các thông số chỉ thị ô nhiễm N-NH4+, N-NO2-, P-PO43- trong các thủy vực tăng nhanh trong tháng và cao hơn GHCP, đặc biệt trong lượt quan trắc ngày 24-25/05/2021 hàm lượng ammonia tăng cao vượt GHCP từ 2-10 lần.
- Mật độ vi khuẩn Vibrio tổng số cao hơn 103 CFU/mL chiếm 39%. Hầu hết các thủy vực đều ghi nhận sự hiện diện của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus (chiếm 87%), mật độ trung bình từ 0-100 CFU/mL.
- Chỉ số chất lượng nước (WQI) trung bình trong các thủy vực dao động từ 64-95, ở mức chất chất lượng nước trung bình chiếm 41%, tốt và rất tốt chiếm 45%, tương đương với trung bình cùng kỳ tháng 5 nhiều năm. Trong đó các thủy vực quan trắc có chất lượng nước đạt ở mức trung bình chủ yếu do các thông số ô nhiễm hữu cơ tăng cao đồng thời mật độ vibrio tổng cao. Ngoài ra ghi nhận Kênh 30/4 thuộc Bạc Liêu có chất lượng nước ở mức xấu do mật độ vibrio tổng tăng rất cao >3x104CFU/mL.
  • Quan trắc vùng nuôi tôm nước lợ xuất khẩu
- Các thủy vực được quan trắc đều có giá trị pH, nhiệt độ, độ mặn đều nằm trong khoảng giá trị cho phép theo QCVN 02-19:2014/BNNPTNT. Lưu vực kênh 700 Tân Nam, bến phà Đại Ân 1, cầu Cà Lăm, kênh Mương 7, rạch cầu Ván có giá trị độ mặn thấp hơn 5‰ ở hầu hết các lượt quan trắc trong tháng 5/2021. Hàm lượng DO thấp trong các thuỷ vực quan trắc thuộc Bạc Liêu, và cầu Cà Lăm.
- Hàm lượng ammnonia, nitrite, phosphate cao hơn QCVN 08-MT:2014/BTNMT và cao hơn cùng kỳ năm 2020 trong hầu hết các thuỷ vực thuộc Bạc Liêu, Cà Mau. Đối với các thủy vực thuốc Bến Tre hàm lượng các chất chỉ thị ô nhiễm thấp hơn so với các thủy vực được quan trắc còn lại. Cần lưu ý các thủy vực thuộc Bạc Liêu như kênh Trường Sơn, sông Bạc Liêu-Trà Kha, kênh 700 Tân Nam (Sóc Trăng) có hàm lượng các chất chỉ thị ô nhiễm tăng cao theo thời gian.
- Mật độ vi khuẩn Vibrio tổng số ghi nhận cao hơn 103CFU/mL ở các thủy vực được quan trắc ở Cà Mau. Hầu hết các thủy vực đều ghi nhận sự hiện diện của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus, mật độ trung bình từ 0-170 CFU/mL.
- Chỉ số chất lượng nước (WQI) trung bình trong các thủy vực dao động từ 59-97, ở mức chất chất lượng nước trung bình, tốt và rất tốt, tương đương với trung bình cùng kỳ tháng 5 nhiều năm. Trong đó các thủy vực quan trắc có chất lượng nước đạt ở mức trung bình chủ yếu do các thông số ô nhiễm hữu cơ tăng cao đồng thời mật độ vibrio tổng cao hơn từ 2-7 lần.
  • Giám sát ao nuôi tôm
Mô hình tôm lúa: Kết quả quan trắc cho thấy các thông số hoá lý ghi nhận được trong các ao nuôi tôm lúa tại Hồng Dân - Bạc Liêu hầu hết đều nằm trong khoảng thích hợp để nuôi tôm. Tuy nhiên cần lưu ý ao nuôi Nguyễn Hồng Kỳ, Nguyễn Việt Quốc hàm lượng oxy hoà tan trong ao nuôi thấp hơn 3.5mg/L. Đăc biệt tại cùng thời điểm kết quả quan trắc cũng cho thấy hàm lượng oxy hòa tan trên kênh cấp cũng khá thấp chỉ đạt 3.0 mg/L. Ngoài ra, hầu hết các ao nuôi đều có độ kiềm khá thấp nằm ở ngưỡng dưới 80 mg/L, cá biệt có hai ao nuôi của hộ Phạm Văn Nam và Trương Văn Mến độ kiềm chỉ 30-40 mg/L. Đối với ao nuôi của hộ Nguyễn văn Dũng cũng cần theo dõi mật độ tổng vi khuẩn Vibrio trong ao nuôi (cao hơn 103 CFU/mL). Kết quả chưa ghi nhận sự hiện diện của các mầm bệnh đốm trắng, hoại tử gan tụy cấp và EHP trong các ao nuôi giám sát.

Mô hình tôm siêu thâm canh: Đối với mô hình tôm nuôi siêu thâm canh cho thấy các chỉ tiêu hóa lý trong các ao nuôi còn khá tốt. Tuy nhiên, cần lưu ý mật độ vi khuẩn trong ao nuôi đối với các ao có mật độ vibrio tổng lớn hơn 103 CFU/mL. Đặc biệt là sự hiện diện của vibro parahaemolyticus trong nước của 4/8 ao nuôi. Ngoài ra người nuôi tôm cũng cần lưu ý đến chất lượng nước của nguồn nước cấp có hàm lượng oxy hòa tan thấp, chất ô nhiễm cao (ammonia tổng, phosphate, TSS và COD) và có sự hiện diện của vibro parahaemolyticus.
- Kết quả giám sát dịch bệnh trên tôm nuôi của các ao cũng cho thấy 2/8 ao nuôi có sự hiện diện của mầm bệnh EHP.
  • Quan trắc vùng nuôi nghêu
- Đối với vùng nuôi nghêu các thông số đều ở mức cho phép theo QCVN 10-MT:2015/BTNMT. Mật độ vi khuẩn vibio tổng cao trong các thủy vực được quan trắc đã giảm so với lượt quan trắc tháng 4/2021. Vibrio parahaemolyticus với mật độ 30-60 CFU/mL. Mẫu nghêu nuôi ở HTX Thạnh Lợi ghi nhận 55% dương tính với Rickettsia-like organisms. Chưa ghi nhận hiện diện của Perkinsus trên mẫu nghêu nuôi.
- Ghi nhận loài các loài tảo có khả năng gây hại khi nở hoa như Chaetoceros spp., Skeletonema costatum, Euglena spp., Pseudoanabaena sp. ở các bãi nghêu được khảo sát, tuy nhiên chúng chưa ở mức gây hại.

3. Nhận định về môi trường nước tại các điểm quan trắc trong tháng 6/2021
Hiện nay Nam bộ đang vào mùa mưa nên nhiệt độ và độ mặn có xu hướng giảm, các thông số môi trường thay đổi liên tục. Giai đoạn này thời tiết đang chuyển mùa nên thường xuyên có những cơn mưa lớn xen kẽ nắng nóng nên các vật nuôi thủy sản dễ bị sốc và mẫn cảm với mầm bệnh.
Khu vực nước nguồn cấp và ao nuôi tôm nước lợ: các thông số chỉ thị ô nhiễm môi trường như N-NH4+, N-NO2-, P-PO43-, TSS, COD sẽ có khả năng vượt ngưỡng GHCP, đặc biệt các lưu vực thuộc Bạc Liêu và Cà Mau.
Vùng nuôi nhuyễn thể: Các thông số môi trường nước vùng nuôi có khả năng biến động lớn bao gồm nhiệt độ, tảo và Vibrio tổng số.
Vùng nuôi cá tra: các thông số chỉ thị ô nhiễm môi trường như N-NH4+, N-NO2-, P-PO43-, TSS, COD và aeromonas tổng số sẽ có khả năng vượt ngưỡng GHCP. Bên cạnh đó tần suất xuất hiện của Aeromonas hydrophilaEdwardsiella ictaluri.

4. Khuyến cáo đối với người nuôi
Hiện nay khu vực Nam bộ đã vào mùa mưa, tuy nhiên thường xuyên có những ngày nắng nóng xen kẻn, vì vậy các hộ nuôi tôm và cá tra cần:
- Gia cố bờ bao, chống xói lở bờ ao, hạn chế nước mưa có thể kéo theo các chất thải hữu cơ vào trong ao.
- Thường xuyên kiểm tra pH trước và sau khi mưa để điều chỉnh kịp thời. Duy trì pH ở mức thích hợp 7,5 - 8,5 và dao động giữa sáng và chiều không quá 0,5 đơn vị. Dùng vôi nông nghiệp, hoặc vôi sống tạt trên bờ trước khi mưa, sau khi mưa, hòa vôi trong nước tạt đều quanh ao nuôi (từ 2-3kg/100m2 ao nuôi). Chủ động giảm hoặc ngưng cho tôm ăn trong thời gian mưa. Trong khi mưa thường xuyên dùng máy quạt oxy để hạn chế sự phân tầng nước. Sau khi mưa có thể dùng chế phẩm sinh học nhằm ổn định và cải thiện chất lượng nước.
- Các ao nuôi sử dụng nguồn nước cấp thuộc các điểm quan trắc có hiện diện của vi khuẩn cơ hội có khả năng gây bệnh trên tôm, cá như Aeromonas hydrophilla, Edwardsiella ictaluri, vibrio parahaemolitycus cần diệt khuẩn kỹ trước khi cấp nước vào ao nuôi.
- Các ao nuôi có hiện tượng ô nhiễm hữu cơ cần xử lý vi sinh/ chế phẩm sinh học để giảm thiểu các chất hữu cơ dư thừa trong ao nuôi, cải thiện chất lượng nước. Đồng thời kiểm tra diệt khuẩn ức chế vi khuẩn trong ao nuôi, giảm rủi ro gây bệnh trên tôm, cá.
- Người nuôi nên thường xuyên kiểm tra các yếu tố thủy lý hóa nước ao và biểu hiện hoạt động của tôm, cá nuôi, định kỳ bổ sung men tiêu hóa, vi lượng, khoáng chất, vitamin,..., đặc biệt là vitamin C vào khẩu phần ăn hằng ngày để tăng sức đề kháng. Thường xuyên kiểm tra ao nuôi sẽ kịp thời phát hiện diễn biến mầm bệnh, nhất là vào những ngày mưa to hay những ngày nhiệt độ tăng cao. Đồng thời thường xuyên theo dõi các bản tin thời tiết, thông tin cảnh báo dịch bệnh trên truyền hình, đài truyền thanh để chủ động trong sản xuất.
Đối với vùng nuôi nghêu:
- Theo dõi kiểm tra thường xuyên mặt bãi cũng như hiện tượng bồi lắng phù sa để có hướng khắc phụ kịp thời như: san phẳng mặt bãi, khai thông vùng nước ở các bãi nghêu nhằm tránh hiện tượng nước đọng cục bộ và giảm thiểu ảnh hưởng của sự chênh lệch nhiệt độ.
- Thu tỉa khi nghêu đạt kích cỡ thu hoạch; đối với nghêu nuôi chưa đạt kích cỡ thu hoạch chủ động di chuyển nghêu xuống vùng triều thấp hơn, đảm bảo hạn chế ảnh hưởng của nắng nóng đến nhuyễn thể.
- Ngoài ra, các hợp tác xã cũng cần tăng cường quản lý sân bãi, thường xuyên theo dõi tình hình phát triển của nghêu nuôi; theo dõi chặt chẽ tình hình biến động của thời tiết và môi trường nước như: nhiệt độ, độ mặn, pH… nhằm sớm phát hiện các biến động của môi trường và tình hình sức khỏe của nghêu để có biện pháp xử lý kịp thời.
- Định kỳ kiểm tra, vệ sinh bãi nuôi, đảm bảo an toàn cho bãi nuôi khi xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa to, giông lốc.

Chi tiết xem tại đây

Tác giả bài viết: TRUNG TÂM QTMT & BTS NAM BỘ

Nguồn tin: CV số 75/TTQT-ĐT, ngày 04 tháng 6 năm 2021

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Hỗ trợ trực tuyến


    
  RIA2

    ĐT:  (84-28) 38299592

     Fax: (84-28) 38226807

       Email: ria2@mard.gov.vn

     
Văn ban chi dao




Đơn vị hợp tác