20:23 EDT Thứ tư, 18/09/2019

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 11


Hôm nayHôm nay : 2288

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 32679

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2778681

Thành viên

Trang nhất » Ấn phẩm » Tạp chí nghề cá sông Cửu Long » Năm 2016 » Số 7

Hiệu quả của việc sử dụng hệ thống thổi khí trong ương cá tra từ bột lên hương ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Thứ năm - 28/04/2016 04:10
TÓM TẮT 

Nghiên cứu đã thực hiện 2 nghiệm thức (NT) ương cá tra từ giai đoạn bột lên hương với thời gian ương 21 ngày, mỗi NT thực hiện 6 ao, mỗi ao có diện tích từ 3.500 đến 3.700 m2, địa điểm tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Mật độ thả bột 750 con/m2 và tất cả các yếu tố kỹ thuật ương của 2 NT đều như nhau, chỉ khác nhau ở NT 1 có cung cấp thổi khí và NT 2 thì không. Hệ thống thổi khí được thiết kế với lượng khí thổi ra từ các đĩa hình tròn, hoạt động qua máy thổi khí và khoảng cách lắp đặt được tính toán nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng. Kết quả ghi nhận lượng Moina sp. trong ao giai đoạn 12 ngày đầu ở NT 1 cao hơn ở NT 2, sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05); và lượng Moina sp. ở cả hai NT đạt cao nhất ở ngày 3 và giảm dần đến ngày 12. Tăng trưởng chiều dài của cá NT 1 có kết quả tốt hơn NT 2, cá bột khi mới thả có chiều dài trung bình từ 5,85 đến 6,30 mm, sau 21 ngày, chiều dài cá đạt 27,7 mm (NT 2) và  37,0 mm (NT 1), sai khác có ý nghĩa thống kê p<0,05. Các yếu tố thủy lý hóa như nhiệt độ nước, pH, độ kiềm, NH3-N, NO2-N, NO3-N và COD của nước ao ở 2 NT đều nằm trong giới hạn thích hợp cho sự phát triển của cá; riêng hàm lượng oxy hòa tan (DO) sáng ở NT 2 thấp hơn NT 1 và thấp hơn ngưỡng thích hợp cho cá phát triển, DO sáng ở NT 2 dao động từ 2,95 đến 4,80 mg/l, ở NT 1 dao động từ 4,6 đến 6,25  mg/l, sai khác có ý nghĩa thống kê  (p<0,05), trừ các ngày ương thứ 5, 6 và 16. Cá nuôi ở NT 1 có tần suất và tỷ lệ nhiễm trùng bánh xe (Trichodina sp.) và tần suất nhiễm vi khuẩn A. hydrophyla thấp hơn cá nuôi ở NT 2, sai khác có ý nghĩa thống kê (p<0,05); cường độ nhiễm Trichodina sp. của cá ở NT 1 ở mức (+), trong khi ở NT 2 nhiễm cả hai mức (+) và (++). Tỷ lệ sống trung bình của cá ở NT 1 (37,17%) cao hơn NT 2 (22,82%),  sai khác có ý nghĩa thống kê p <0,05 và chỉ số FCR dao động từ 0,36 đến 0,39. ==>>(Chi tiết  xin vui lòng liên hệ Phòng Khoa hoc,HTQT&ĐT- Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 2)

Tác giả bài viết: Đinh Thị Thủy, Nguyễn Thành Nhân, Đoàn Văn Cường, Nguyễn Diễm Thư

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Hỗ trợ trực tuyến


    
  RIA2

    ĐT:  (84-28) 38299592

     Fax: (84-28) 38226807

       Email: ria2@mard.gov.vn

     
Văn ban chi dao




Đơn vị hợp tác