21:19 EDT Chủ nhật, 23/09/2018

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 5


Hôm nayHôm nay : 2072

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 50128

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1980547

Thành viên

Trang nhất » Tin Tức » Tin hoạt động

Cá rô phi đỏ (Oreochromis spp) chọn giống đầu tiên tại Việt Nam

Chủ nhật - 15/04/2018 22:58
Cá rô phi là tên gọi chung của nhiều loài cá thuộc họ Cichlidae, được chia làm ba nhóm chính là Tilapia, Sarotherodon và Oreochromis dựa trên tập tính sinh sản và nuôi giữ con (Beveridge và McAndrew, 2000). Trong số này, cá rô phi đỏ (Oreochromis spp.) được nuôi phổ biến nhất trên toàn thế giới (FAO, 2016). Ở Việt Nam, cá rô phi đỏ hiện được nuôi phổ biến tại Nam Bộ.


Tuy nhiên, công tác quản lý cá bố mẹ và cá giống chưa chặt chẽ dẫn đến chất lượng cá giống suy giảm. Điều này ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của nghề nuôi do cá lớn chậm, tỉ lệ sống thấp dẫn đến gia tăng hệ số thức ăn và phát sinh các chi phí khác như hóa chất xử lý môi trường, thuốc trị bệnh trong quá trình nuôi. Do đó, sản xuất con giống có chất lượng cao đang là một yêu cầu bức thiết của nghề nuôi. Nghề nuôi cá rô phi đỏ tại đồng bằng sông Cửu Long đòi hỏi con giống có chất lượng, cụ thể là tăng trưởng nhanh, màu sắc đỏ đẹp, tỉ lệ sống cao và khả năng chịu mặn. Nhu cầu này có thể được giải quyết bằng chọn giống dài hạn.

Chọn giống dựa trên lý thuyết di truyền số lượng đã được chứng minh là cách thức khoa học và có hiệu quả nhằm nâng cao các tính trạng mong muốn trên vật nuôi. Ngoài ra, kết quả của chọn giống còn được tích lũy và duy trì qua từng thế hệ, do đó chất lượng con giống được ổn định và gia tăng theo thời gian.

Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 2, chủ trì thực hiện chương trình chọn giống cá rô phi đỏ đầu tiên tại Việt Nam từ năm 2008 đến nay. Năm 2008, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II (Viện II) đã thành lập thiết lập quần thể ban đầu cá rô phi đỏ đầu tiên tại Nam Bộ. Đây là chương trình hợp tác giữa Viện II với Trung tâm Di truyền Akvaforsk (AFGC), Na Uy. Trong khuôn khổ đề tài nhiệm vụ cơ sở ‘Hình thành nguồn vật liệu ban đầu cho chọn giống cá rô phi đỏ (Oreochromis spp.)’, năm 2008 Viện II đã tiếp nhận 100 gia đình cá rô phi đỏ chọn giống thế hệ thứ II từ Ecuador. Một trăm gia đình này thuộc một chương trình chọn giống được tiến hành tại Ecuador từ năm 2004. Quần thể ban đầu của chương trình chọn giống tại Ecuador được tập hợp từ 7 dòng cá khác nhau tại các trại giống ở khu vực Châu Mỹ La Tinh trong thời gian tháng 12/2004 đến tháng 03/2005. Đó là các dòng i) Colombia F3G, ii) Colombia F3S, iii) Israel, iv) Jamaica F3G, v) mix reproduction, vi) Modercorp × Colombia, và vii) Tilapia Negra Estero. Trong số cá nhập nội Ecuador, đề tài cơ sở đã chọn lọc 502 cá cái và 250 cá đực có màu sắc đỏ đẹp và trọng lượng thân lớn nhất trong 90 gia đình để làm cá bố mẹ, từ đó đã sản xuất được hơn 135 gia đình fullsib (anh chị em ruột, cùng cha mẹ) và halfsib (anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc ngược lại). Công tác thành lập nguồn vật liệu ban đầu và tìm hiểu các thông số di truyền của quần thể cá rô phi đỏ nhập nội Ecuador được tiếp tục năm 2009 với đề tài nhiệm vụ cơ sở ‘Chọn giống cá rô phi đỏ theo tính trạng tăng trưởng’. Đề tài đã xây dựng cơ sở dữ liệu các đặc điểm liên quan đến di truyền chọn giống của quần đàn cá rô phi đỏ nhập nội Ecuador

Chương trình chọn giống được thực hiện từ năm 2010 - 2012 thông đề tài ‘Đánh giá các thông số di truyền và hình thành nguồn vật liệu ban đầu cho chọn giống cá rô phi đỏ (Oreochromis spp.)’ (2010 – 2013) thuộc Chương trình Công nghệ sinh học nông nghiệp và thủy sản. Ngoài nhóm cá Ecuador từ hai đề tài cơ sở trước, đề tài đã nhập thêm 4 nhóm cá Đài Loan, Malaysia, Israel và Thái Lan để đa dạng hóa quần thể chọn giống. Đề tài đã áp dụng phương pháp ghép phối hỗn hợp toàn phần giữa 4 dòng cá để tạo 16 tổ hợp, sau đó đánh giá tăng tưởng và màu sắc của 16 tổ hợp này với qui mô 189 gia đình trong 2 môi trường nuôi nước ngọt và lợ mặn. Quần thể chọn giống ban đầu G0 đã được thành lập trên kết quả đánh giá đa dạng di truyền và kết quả đánh giá tăng trưởng màu ở 2 môi trường nuôi.

Đề tài ‘Ứng dụng di truyền phân tử, di truyền số lượng phục vụ chọn giống nâng cao sinh trưởng cá rô phi đỏ (Oreochromis spp.)’ (2014 – 2016) cũng thuộc Chương trình Công nghệ sinh học nông nghiệp và thủy sản, quần thể rô phi đỏ đã và đang thực hiện 4 thế hệ chọn giống theo tính trạng tăng trưởng và màu sắc. Sau 3 thế hệ chọn lọc (từ G2 đến G4) thì hiệu quả chọn lọc tăng hơn 24% so với ban đầu.

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đang triển khai dự án cung cấp cá rô phi đỏ hậu bị chất lượng cao cho các cơ sở sản xuất giống, góp phần năng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống cho người nuôi. Trong khuôn khổ dự án chỉ đáp ứng được 1 phần nhỏ số lượng cá hậu bị chất lượng đến cơ sở sản xuất giống so với nhu cầu hàng trăm nghìn cá bố mẹ mỗi năm của thị trường cá giống đặc biệt trong điều kiện khí hậu bất ổn như hiện nay. Các cơ sở sản xuất giống có nhu cầu cá bố mẹ chất lượng vui lòng liên hệ với Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II để được tư vấn công tác tiếp nhận cá hậu cũng như hỗ trợ kỹ thuật trong công tác quản lý đàn cá bố mẹ, kỹ thuật ghép phối và ương nuôi cá giống đạt chất lượng cao.

Một số đặc điểm chính

Chương trình chọn giống cá rô phi đỏ đáp ứng mục tiêu nâng cao tốc động sinh trưởng,  cải thiện màu sắc (không đốm hoặc có đốm <5% điện tích bề mặt cơ thể) và khả năng chịu mặn cụ thể là
Hệ số di truyền (h2) của tính trạng tăng trưởng (ghi nhận bằng khối lượng thu hoạch) được ước tính là 0,35 ± 0,23 cho thế hệ thứ nhất (G1), 0,27 ± 0,10 cho thế hệ thứ hai (G2), 0,20 ± 0,10 cho thế hệ thứ ba (G3) và 0,29 ± 0,10 cho thế hệ G4. Ảnh hưởng của môi trường (c2) nằm trong khoảng được báo cáo trên cá rô phi: 0,17 ± 0,10 (G1), 0,09 ± 0,04 (cho cả G2 và G3) và 0,07 ± 0,03 (G4). Hiệu quả chọn lọc khi so sánh giữa thế hệ G3 và G2 là 15,5%.

Hệ số di truyền (h2) của tính trạng màu sắc (ghi nhận bằng mắt thường khi thu hoạch) được ước tính là 0.19 ± 0.16 cho thế hệ thứ nhất (G1-Ecuador), 0.33 ± 0.03 cho thế hệ thứ hai (G2-Ecuador), và 0.32 ± 0.03, 0.30 ± 0.04 cho thế hệ thứ nhất (G1) dòng nước ngọt và nước mặn.

Tốc độ sinh trưởng cá rô phi đỏ chọn giống tăng 30 – 40%, thời gian nuôi giảm 1 – 1,5 tháng so với cá chưa qua chọn lọc; hệ số thức ăn 1,6 – 1,7 so với cá rô phi đỏ chưa qua chọn lọc là >1,7; tỷ lệ sống đạt 75 – 80%; khả năng chịu mặn đến 37 phần nghìn (Kết quả nuôi thực nghiệm tại Trại thực nghiệm Bạc Liêu).

Thông tin sinh học sinh sản
  • Tỷ lệ thành thục đạt 75 – 85%,
  • Sức sinh sản đạt 600 – 800 cá bột/cá cái,
  • Chu kỳ sinh sản 7 – 10 lần/năm,
  • Tỷ lệ sống cá bột đến cỡ cá giống từ 60 – 70%.
 

Thông tin liên hệ
  1. Tên tổ chức: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II
Địa chỉ: 116 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 1, Tp.Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0283 8 299 592      Fax: 0283 8 226 807
 
  1. Tên tổ chức: Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ
Địa chỉ: Xã An Thái Trung, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
Điện thoại: 2 Fax: 2
Di dộng: 0932 992 067 (Khoa)













Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Hỗ trợ trực tuyến


    
  RIA2

    ĐT:  (84-28) 38299592

     Fax: (84-28) 38226807

       Email: ria2@mard.gov.vn

     
Văn ban chi dao




Đơn vị hợp tác