04:52 EST Chủ nhật, 28/02/2021

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 20


Hôm nayHôm nay : 4967

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 138571

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4774274

Thành viên

Trang nhất » Tin Tức » Tin hoạt động » Bản tin quan trắc

Tóm tắt diễn biến môi trường năm 2020 và cảnh báo mùa khô 2021 khu vực nuôi nghêu

Thứ bảy - 13/02/2021 02:43
Nhiệt độ trong các bãi nghêu dao động từ 28-32°C, trong đó HTX nuôi nghêu ở Trà Vinh có nhiệt độ bình quân là 29,5 ± 2,1°C, Bến Tre là 30,3 ± 1,0°C. Độ mặn trong các bãi nuôi nghêu thuộc Bến Tre trung bình là 18,5 ± 6,8‰, tương đương năm 2019. Các bãi nghêu này có giá trị độ mặn giảm nhanh từ tháng 7 đến tháng 11 và đạt giá trị thấp hơn 4‰ vào cao điểm mùa lũ. Độ kiềm trong các bãi nuôi nghêu thuộc Bến Tre trung bình là 97 ± 23 mg/L. Trong đó bãi nghêu HTX Rạng Đông có độ kiềm 109 ± 19mg/L cao hơn so với HTX Thành Lợi (85 ± 20mg/L). pH các bãi nuôi nghêu dao động từ 7,2-8,5 nằm trong khoảng thích hợp cho mục đích bảo vệ đời sống thủy sinh theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT. Hàm lượng DO bãi nghêu HTX Thành Đạt ở Trà Vinh dao động từ 4-5 mg/L; Bến Tre 4,0-5,5 mg/L, phù hợp cho bảo vệ đời sống thuỷ sinh. Hàm lượng COD trong các thủy vực được quan trắc cho vùng nuôi nghêu được quan trắc trung bình là 9,0 ± 4,5 mg/L, trong đó Trà Vinh và Bến Tre lần lượt là 9,3 ± 5,3 mg/L và 8,8 ± 4,2 mg/L, cao hơn năm 2019. TSS khu vực bãi nghêu thuộc Trà Vinh dao động từ 10 đến 187mg/L, Bến Tre từ 13-328mg/L. Tổng sulfide hiện diện trong một số thuỷ vực, tuy nhiên chưa ghi nhận trường hợp có hàm lượng sulfide lớn hơn 0,05 mg/L. Hàm lượng ammonia trong các thủy vực được quan trắc ở 2 HTX nghêu của Bến Tre dao động trong khoảng 0,013-0,585 mg/L, Trà Vinh là 0,016-0,228mg/L. Hàm lượng nitrite vượt GHCP 0,1 mg/L theo QCVN 10-MT:2015/BTNMT cột giá trị giới hạn cho cùng nuôi trồng thủy sản, bảo tồn thủy sinh chỉ chiếm 16% tổng số lần quan trắc. Nitrite tăng cao từ tháng 7 đến tháng 9. Ghi nhận sự hiện diện của Hg, Pb và Cd với hàm lượng rất thấp (Hg<0,001mg/L, Pb<0,05mg/L, Cd<0,005mg/L). Vibrio tổng số trong các bãi nghêu trung bình 1,0x103 ± 1,4x103 CFU/mL. Ghi nhận sự xuất hiện của 7 loài tảo có khả năng gây hại thuộc 3 lớp tảo như Tảo silic (Bacillariophyceae), Tảo giáp (Dinophyceae), Tảo lam (Cyanophycaea).
III. Khuyến cáo
Kết quả quan trắc hàng năm cho thấy nghêu chết thường tập trung vào các thời điểm cuối năm trước và đầu năm sau, độ mặn tăng cao kết hợp với nhiễm thứ cấp các yếu tố vi sinh như Vibrio gây bệnh hay ký sinh trùng. Vì vậy đối với vùng nuôi nghêu cần tính toán thả giống ở mật độ phù hợp, cần chọn các bãi nuôi phù hợp, ít xảy ra bệnh hàng năm để duy trì nghêu trong khoảng thời gian này hoặc tính thời gian thả giống sao cho đến thời điểm từ tháng 1-4 hàng năm nghêu đã được kích cỡ nhất định để có thể vượt qua các thời điểm dễ thiệt hại. Thường xuyên kiểm tra mật độ nghêu nuôi để có kế hoạch chủ động san thưa, đảm bảo mật độ nuôi phù hợp.

Đối với các bãi nghêu nằm ở vùng cao triều, thời gian phơi bãi dài ở những thời điểm nắng nóng rất dễ xảy ra hiện tượng chết vì vậy cần quan tâm đến việc cào nghêu đến vùng thấp hơn và san thưa mật độ, nếu có nghêu chết cần thu gom bớt xác để tránh lây lan.
San bằng mặt bãi, khai thông vùng nước ở các bãi nghêu nhằm tránh hiện tượng nước đọng cục bộ bà giảm thiểu ảnh hưởng của sự chênh lệch nhiệt độ trong ngày làm nghêu yếu và chết.

Tăng cường kiểm tra hoạt động của nghêu, theo dõi chặt chẽ biến động của thời tiết và chất lượng nước, kịp thời phát hiện những dấu hiệu bất thường. Khi phát hiện hiện tượng bất trường trên nghêu phải báo ngay cho cơ quan chức năng để có biện pháp ứng phó kịp thời.

Chi tiết xem tại đây

Tác giả bài viết: TRUNG TÂM QTMT & BTS NAM BỘ

Nguồn tin: CV số: 12/TTQT-ĐT, ngày 02 tháng 02 năm 2021

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Hỗ trợ trực tuyến


    
  RIA2

    ĐT:  (84-28) 38299592

     Fax: (84-28) 38226807

       Email: ria2@mard.gov.vn

     
Văn ban chi dao




Đơn vị hợp tác