21:06 EST Thứ ba, 21/11/2017

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 71


Hôm nayHôm nay : 594

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 20880

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1594534

Thành viên





 

Trang nhất » Nghiên cứu khoa học » Kết quả nghiên cứu mới và nổi bật

Cá rô phi đỏ tại Trung tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ

Thứ tư - 20/05/2015 10:30
Cá rô phi và cá rô phi đỏ Cá rô phi là tên gọi chung của nhiều loài cá thuộc họ Cichlidae, được chia làm ba nhóm chính là Tilapia, Sarotherodon và Oreochromis dựa trên tập tính sinh sản và nuôi giữ con (Beveridge và McAndrew, 2000). Trong số này, cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) được nuôi phổ biến nhất trên toàn thế giới (El-Sayed, 2006).
1. Cá rô phi đỏ (O. spp) được phát hiện lần đầu tiên năm 1969 tại một trại nuôi cá rô phi ở phía Nam Đài Loan. Từ phát hiện này, một quần thể cá rô phi đỏ đầu tiên được phát triển tại Viện Nghiên cứu Thủy sản Đài Loan (Kuo, 1969). Số cá rô phi đỏ này được ghi nhận là con lai giữa cá rô phi đen (O. Mossambicus) đột biến màu (mutant-coloured) với cá rô phi vằn (Liao và Chen, 1983). Một số dòng cá rô phi đỏ khác, ví dụ như dòng cá rô phi đỏ Florida, được tạo ra bằng cách lai giữa 4 loài cá rô phi, đó là cá rô phi đen với cá rô phi vằn, cá rô phi xanh (O. aureus) và cá rô phi Zanzibar (O. urolepis-hornorum) (McAndrew và ctv, 1988, Lovshin, 2000, Desprez và ctv, 2006). Tuy nhiên, cá rô phi đỏ có nguồn gốc từ cá rô phi đen với cá rô phi vằn là phổ biến nhất, đặc biệt tại khu vực Châu Á–Thái Bình Dương và Trung Đông (Huang và ctv, 1988, Reich và ctv, 1990, Mather và ctv, 2001). Do đó một số tác giả khi đề cập đến cá rô phi đỏ chỉ trích dẫn là con lai của cá rô phi đen hoặc cá rô phi vằn mà không giải thích gì thêm (Romana-Eguia, 2004, Medeiros và ctv, 2004, Wing-Keong và Rosdiana, 2007). Một số nhóm cá rô phi đỏ cũng được phát hiện trong một quần thể cá rô phi đen (Wohlfarth và ctv, 1990) hoặc cá rô phi vằn (McAndrew và ctv, 1988) thuần chủng. 
 
Tóm lại, cá rô phi đỏ không phải là một loài cá rô phi riêng biệt mà chỉ là con lai giữa hai (tối đa 4) loài cá rô phi khác nhau. Có thể dễ dàng phân biệt cá rô phi đỏ với các loài cá rô phi khác bằng màu sắc. Cá rô phi đỏ có các màu từ xám, trắng, hồng, đỏ cam, có thể lẫn các đốm đen. Ngoại hình cá không khác biệt so với cá rô phi vằn ở các chỉ tiêu hình thái như chiều cao thân, chiều dài đầu, chiều dài chuẩn, đường kính mắt, số gai cứng vây lưng, số tia vây lưng mềm, số tia vây hậu môn và số cung mang (Pante và ctv, 1988). Các chỉ tiêu sinh trưởng và sinh sản của cá rô phi đỏ cũng tương tự như cá rô phi vằn, tuy nhiên cá rô phi đỏ (đặc biệt là dòng rô phi đỏ Florida) có sức chịu mặn tốt hơn, do đó có thể sống và tăng trưởng tốt ở môi trường mặn lợ (Romana-Eugia và Eguia, 1999, 2004).

 
Cá rô phi đỏ được quan tâm phát triển có lẽ do màu sắc của nó thu hút người tiêu dùng, bắt đầu ở các thị trường Châu Âu, Châu Mỹ, Đài Loan, Singapore và Malaysia (Behrends và ctv, 1982, Avtalion và Reich, 1989), sau đó lan sang những quốc gia khác. Do đó cá rô phi đỏ thường được bán cao giá hơn cá rô phi vằn hoặc cá rô phi đen (Koren và ctv, 1994, Mather và ctv, 2001, Garduno-Lugo và ctv, 2004, Wing-Keong và Rosdiana, 2007). Cá rô phi đỏ hiện được nuôi phổ biến tại Châu Á, Trung và Nam Mỹ (El-Sayed, 2006). Tại Malaysia, cá rô phi đỏ chiếm khoảng 90% tổng sản lượng cá rô phi nuôi. Sản lượng cá rô phi đỏ tăng lên nhanh chóng (gia tăng 144%), từ 8.214 tấn (năm 1998) lên đến 20.061 tấn (năm 2003) (Thống kê của Cục Nghề cá Malaysia, 1998, 2003). Tại Thái Lan, sản lượng rô phi đỏ khoảng 20.711 tấn (Cục Nghề cá, 2005).
 
2) Nghề nuôi cá rô phi đỏ tại Nam Bộ
 
Cá rô phi đỏ còn được gọi là cá điêu hồng ở miền Nam. Thông tin về tên gọi, phân loại, đặc điểm sinh học, sinh trưởng, di truyền màu sắc của cá được Nguyễn Tường Anh (2002) mô tả khá đầy đủ. Cá được ưa chuộng do có màu sắc đỏ đẹp và thành bụng không có màu đen như cá rô phi thường. Tại Việt Nam, nghề nuôi cá rô phi đỏ phát triển mạnh nhất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Do đó, cá rô phi đỏ là đối tượng nuôi khá phổ biến ở Nam Bộ. Cá được nuôi chủ yếu trong bè hoặc trong đăng quầng. Các vùng nuôi chính tập trung ở Mỹ Tho, An Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ và một số nơi tại miền Đông Nam Bộ. Hiện không có số liệu thống kê chính thức về sản lượng, diện tích nuôi hoặc số lượng bè nuôi cá rô phi đỏ tại Đồng bằng sông Cửu Long. Theo thông tin cá nhân từ người nuôi (năm 2009) thì riêng khu vực Mỹ Tho (Tiền Giang), xung quanh hai cù lao Thới Sơn và Thanh Long, đã có khoảng 1.400 bè nuôi, cho tổng sản lượng khoảng 7.000 tấn cá thịt/năm. 
 
Nhu cầu con giống 12 g là khoảng 14 triệu/năm. Tỉ lệ sống từ con giống đến khi thu hoạch là rất thấp, chỉ đạt khoảng 30%. Số liệu không chính thức từ Trung tâm Khuyến ngư Tiền Giang (năm 2008) cho biết sản lượng giống (cả rô phi vằn và rô phi đỏ) của tỉnh là 300 tấn/năm, quy cách giống 200 – 600 con/kg. Sản lượng cá thịt dao động 7.000 – 8.000 tấn/năm, tập trung ở khu vực Mỹ Tho và huyện Châu Thành. Nuôi ao cá rô phi chiếm sản lượng không đáng kể. Số liệu không chính thức từ Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản Đồng Tháp (năm 2008) cho biết sản lượng cá giống rô phi nói chung (vằn & đỏ) là 17–20 triệu/năm, quy cách 80–150 con/kg. Tổng số bè nuôi là 448, trong đó Sa Đéc có 68 bè, Cao Lãnh 306 bè, Hồng Ngự 74 bè. Tổng sản lượng cá thịt 6 tháng đầu năm 2008 là 12.495 tấn (Sa Đéc 8.077 tấn, Cao Lãnh 2.918 tấn và Hồng Ngự 2.500 tấn). Nhìn chung, cá rô phi đỏ được nuôi khá phổ biến trong bè, có lẽ chỉ sau cá tra. Sản lượng rô phi đỏ trong năm 2009 của Đồng bằng sông Cửu Long được dự đoán đạt 60.000 tấn (thông tin từ người nuôi). Vào thời điểm hiện tại (2013), số lượng bè nuôi cá rô phi đỏ được ước tính vào khoảng 6.000 chiếc (thông tin từ người nuôi). 
 
 

Cá rô phi đỏ được họn giống tại Trung tâm QGGTSNN Nam Bộ

 
Nghề nuôi cá rô phi đỏ hiện đang gặp khó khăn về chất lượng con giống. Thứ nhất, tăng trưởng kém: Cá rô phi đỏ nuôi bè hoặc nuôi đăng quần sau 6 tháng có thể đạt trung bình 500 g/con, mức tăng trưởng này chỉ bằng 80% so với cá rô phi vằn dòng GIFT, do đó hiệu quả kinh tế chưa cao. Thứ hai, sức sống thấp: Con giống có sức khỏe kém, dễ bệnh, tỉ lệ hao hụt cao (tới 70% từ giai đoạn cá giống đến khi thu hoạch) làm tăng chi phí sản xuất, nghề nuôi đạt hiệu quả kém. Các chỉ tiêu trong quá trình nuôi đều bị ảnh hưởng từ chất lượng con giống thấp, ví dụ như tỉ lệ sống thấp, hệ số chuyển hóa thức ăn cao (1,7 – 2,0), chi phí thuốc phòng trị bệnh tốn kém. Thứ ba, cá rô phi đỏ hiện nay có màu sắc không thuần nhất, đôi khi lẫn nhiều đốm đen, làm giảm giá trị của sản phẩm. Thị trường luôn ưa chuộng và trả giá cao hơn cho những cá thể có màu hồng phấn hoàn toàn, không lẫn đốm đen. Nhìn chung thị trường nội địa đánh giá chất lượng con giống theo những tiêu chí sau (xếp theo mức độ quan trọng): Màu hồng thuần nhất, không có đốm đen, tỉ lệ sống, tăng trưởng và hình dạng thân. Do đó, nhu cầu con giống có chất lượng (tăng trưởng nhanh, tỉ lệ sống cao, sức khỏe tốt, kháng bệnh) là một đòi hỏi cấp thiết của nghề nuôi cá rô phi đỏ tại Nam Bộ.
 
 
3) Thành lập quần thể cá rô phi đỏ đầu tiên cho chọn giống tại Nam Bộ và nghiên cứu di truyền phân tử đầu tiên trên cá rô phi đỏ (tại Việt Nam)
 
Năm 2008, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II (Viện II) đã thành lập thiết lập quần thể ban đầu cá rô phi đỏ đầu tiên tại Nam Bộ. Đây là chương trình hợp tác giữa Viện II với Trung tâm Di truyền Akvaforsk (AFGC), Na Uy. Trong khuôn khổ đề tài nhiệm vụ cơ sở ‘Hình thành nguồn vật liệu ban đầu cho chọn giống cá rô phi đỏ (Oreochromis spp.)’, năm 2008 Viện II đã tiếp nhận 100 gia đình cá rô phi đỏ chọn giống thế hệ thứ II từ Ecuador. Một trăm gia đình này thuộc một chương trình chọn giống được tiến hành tại Ecuador từ năm 2004. Quần thể ban đầu của chương trình chọn giống tại Ecuador được tập hợp từ 7 dòng cá khác nhau tại các trại giống ở khu vực Châu Mỹ La Tinh trong thời gian tháng 12/2004 đến tháng 03/2005. Đó là các dòng i) Colombia F3G, ii) Colombia F3S, iii) Israel, iv) Jamaica F3G, v) mix reproduction, vi) Modercorp × Colombia, và vii) Tilapia Negra Estero. Trong số cá nhập nội Ecuador, đề tài cơ sở đã chọn lọc 502 cá cái và 250 cá đực có màu sắc đỏ đẹp và trọng lượng thân lớn nhất trong 90 gia đình để làm cá bố mẹ, từ đó đã sản xuất được hơn 135 gia đình fullsib (anh chị em ruột, cùng cha mẹ) và halfsib (anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc ngược lại). Công tác thành lập nguồn vật liệu ban đầu và tìm hiểu các thông số di truyền của quần thể cá rô phi đỏ nhập nội Ecuador được tiếp tục năm 2009 với đề tài nhiệm vụ cơ sở ‘Chọn giống cá rô phi đỏ theo tính trạng tăng trưởng’. Đề tài đã xây dựng cơ sở dữ liệu các đặc điểm liên quan đến di truyền chọn giống của quần đàn cá rô phi đỏ nhập nội Ecuador.
 
Bản đồ nhập nội các dòng cá rô phi đỏ tại Trung Tâm QGGTSNN Nam Bộ
 
Đề tài ‘Đánh giá các thông số di truyền và hình thành nguồn vật liệu ban đầu cho chọn giống cá rô phi đỏ’ (thuộc Chương trình công nghệ sinh học nông nghiệp và thủy sản) nhập nội thêm ba dòng cá từ Đài Loan, Malaysia và Thái Lan để bổ sung cho nguồn cá Ecuador. Qua hơn hai năm thực hiện, đề tài đã đánh giá sự đa dạng của 4 dòng cá, sử dụng 7 microsatellies. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về mặt di truyền giữa các dòng cá (Liên Hà và ctv, 2011). Đề tài đã tiến hành lai chéo 4 dòng cá, tạo ra 16 tổ hợp được nuôi và đã thu hoạch trong môi trường nước ngọt và lợ mặn để đánh giá tăng trưởng của các dòng. Trong năm 2012, đã nhập thêm dòng cá rô phi đỏ Israel. Hiện nay, đề tài đã sản xuất thế hệ chọn giống thứ nhất và tiếp tục chọn lọc theo tính trạng tăng trưởng và màu sắc đỏ đẹp.
 





Trịnh Quốc Trọng






 

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Văn ban chi dao
Thu dien tu Mard

Hỗ trợ trực tuyến


    
  RIA2

    ĐT:  (84-28) 38299592

     Fax: (84-28) 38226807

       Email: ria2@mard.gov.vn

     







 

Đơn vị hợp tác